Kết quả thử nghiệm

1. Tính thấm nước (chống lại sự xâm thực của nước)
US Dept of Transportation, Federal Highway Administration, Washington DC, 1981-1984-PB84-238740, báo cáo FHWA/RD/ – 84/001 – giảm đến 72.2% sự hấp thu nước
a. CSIRO (Australian Federal Government) điều tra  của Concrete Cores, Hong Kong Highways Department, Sydney Australia, March 1999, báo cáo Bin 151 – kiểm chứng bản bêtông mẫu đã xử lý Radcon Formula® Formular #7 về khả năng kháng nước thẩm thấu cho thấy nó đã được cải thiện tốt hơn bản bêtông có Mác 60mpa chưa được xử lý Radcon® Formula #7.
b. SINTEF Structure và Concrete Norway, 1995 – báo cáo 70021 – 2, kiểm chứng độ thấm nước của bê tông đã xử lý Radcon® Formula #7–cho thấy giảm sự thấm nước một cách hiệu quả đến 70% với cột áp rất cao lên tới 400 m (40 kg/cm²). Thí nghiệm đã ngưng lại vì các mẫu thử bêtông không chịu nỗi cột áp cao hơn.
c. University of New South Wales, Building Research Centre, Sydney Australia, 1993, việc xử lý Radcon® Formula #7 đã đạt được các tiêu chuẩn của lớp phủ bảo vệ bề mặt được ghi trong điều 4.3.1 Part (C) của tiêu chuẩn AS 3600 Concrete Structures Code liên quan đến độ thấm nước và Clorua.
2. Chống xâm thực của Ion Clorua
“ Chính các tác nhân xâm nhập của Ion Clorua từ muối băng tan và có trong môi trường biển vào bê tông, là tác nhân đầu tiên của sự ăn mòn cốt thép trong kết cấu bê tông của cầu đường cao tốc.
Hiệu quả cao nhất có được trong việc tạo ra khả năng chống thấm cho bêtông là khi chính bản thân bêtông có được cho mình một rào cản nước nằm sâu trong thân của nó. Chống thấm bằng phương pháp phun thẩm thấu vào bêtông cốt thép hoặc bêtông tiền áp ngay sau khi xây dựng sẽ giúp bảo vệ bêtông không bị chloride tấn công trước khi đưa bêtông vào hoạt động. Đối với các kết cấu bêtông đã đi vào hoạt động, việc phun chất chống thấm thẩm thấu vào bêtông cốt thép và bêtông tiền áp khi chưa có hiện tượng ăn mòn xảy ra, thì nó cũng bảo vệ cho bêtông không còn bị môi trường xâm thực tấn công nữa. Chống thấm bằng phương pháp phun thẩm thấu vào bêtông cũng tham gia xử lý bề mặt bêtông để tạo một lớp rào cản nước nhưng vẫn cho phép thoát hơi, bảo vệ bêtông tránh được sự xâm thực của nước và muối, cung cấp bổ sung biện pháp bảo vệ bêtông không bị ăn mòn cốt liệu.”
(Tham khảo BA 33/90 Department of Transport Highways & Traffic Departmental Advice Note BA33/90, “Impregnation of Concrete highway Structures”)
a. Warnock Hersey Professional Services, Ontario Canada, 1989 – báo cáo 50244 – C7 – 416600 – sự xâm nhập Ion Clorua AASHTO Designation T260 – 80, -“ đạt được các chỉ tiêu của ACI với kết quả 0.10 wt% cho bê tông cốt thép trong môi trường ẩm ướt tiếp xúc trực tiếp với clorua”
b. CSIRO (Australian Federal Government) Investigation of Concrete Cores, Hong Kong Highways Department, Sydney Australia, March 1999, Report Bin 151 – lượng Clorua hòa tan trong nước có trong các thỏi bêtông kiểm chứng ở độ sâu 25mm là khoảng 0.05% so với trọng lượng của thỏi bêtông lúc khô. Như vậy đã đạt được thấp hơn 50% cho phép của tiêu chuẩn quốc tế.
c. SINTEF Structures and Concrete Norway, 1995 – Report 70021 – 2, Chloride Ingress due to Salt Water Spraying on Concrete Impregnated with Radcon #7® , Ficks Law of Diffusion KS 70116 – “hệ số khuyếch tán Clorua một cách hiệu quả đối với Radcon #7® khoảng 10 lần thấp hơn bê tông đối chứng. . .”
d. University of New South Wales ,Building Research Centre, Sydney Australia, 1993, việc xử lý Radcon® Formula #7 đã đạt được các tiêu chuẩn của lớp phủ bảo vệ bề mặt được ghi trong điều 4.3.1 Part (C) của tiêu chuẩn AS 3600 Concrete Structures Code liên quan đến độ thấm nước và Clorua.
3. Hàn gắn vết nứt
Các hợp chất độc quyền có trong chất Radcon® Formula #7 đã tạo ra khả năng hàn gắn các đường nứt của bê tông mà cơ chế hàn gắn tự động của bêtông không làm được do độ rộng của vết nứt hoặc do các điều kiện của môi trường. Khác với các chất hàn gắn thẩm thấu khác và cả các chất trong hệ thống màng phủ, Radcon® Formula #7 có được khả năng tiếp tục hàn gắn các đường nứt chân tóc có thể xảy ra cho bêtông trong tương lai.
a. Đại học Bologna, Italy 1995, thử nghiệm sự hàn gắn và tái hàn gắn của Radcon® Formula #7 – đã hàn gắn những vết nứt mới lên đến 0.3mm, và lên đến 1.3mm có sự hỗ trợ của dung dịch calcium, vết thấm không thấm trở lại, đạt được 58,4% sự giảm việc xâm nhập của nước.
b. Đại học New South Wales, trung tâm nghiên cứu Xây dựng, 1995 – khả năng hàn gắn đường nứt của Radcon #7 – đường nứt rộng 0.2mm đã được hàn gắn với Radcon #7, sau đó cho chịu áp lực cột nước 2 bar trong 60 ngày. Không có vết thấm nào nữa sau đó.
4. Hiệu quả của việc thoát khí
Bê tông sàn cầu thông thường có từ 10 đến 20% thể tích rỗng bao gồm các ống khí mao dẫn, lỗ rỗ và những bọng rỗng, phần lớn chứa đầy không khí. Khi nhiệt độ ở sàn bê tông cầu thay đổi, lượng không khí này hoặc sẽ giãn nở (nếu nhiệt độ tăng) hoặc co lại (nếu nhiệt độ giảm). Hiện tượng không khí giãn nở do nhiệt độ môi trường thay đồi đã đồng thời làm áp lực gia tăng buộc giải phóng lượng khí bị nhốt trong bêtông ra ngoài, tạo ra hiện tượng thoát khí (outgassing). Điều này đã gây khó khăn cho việc thi công màng phủ, vì lượng khí được phóng thích đã làm phồng rộp thậm chí gây thủng cho lớp màng hoặc tấm trải.
Radcon® Formula #7 là chất hàn gắn nằm ẩn sâu bên dưới tạo ra một lớp rào cản liên tục chống sự xâm thực của ion clorua, các chất ô nhiễm và nước, nó còn cho phép sự thoát khí trong bê tông được thực hiện mà không gây bất kỳ rủi ro nào của việc phân lớp hay thủng lổ khi cấu trúc bê tông trải qua chu kỳ sốc nhiệt.
a. US Dept of Transportation, Federal Highway Administration, Washington DC, 1981 – 1984 – PB84 – 238740, Report FHWA/RD/ – 84/001 – Radcon® Formula #7 đạt được 90% sự thoát hơi nước.
b. Warnock Hersey Professional Services, Ontario Canada, 1989 – Report 50244 – C7 – 416600, Về khả năng thóat hơi nuớc, hơi ẩm – Radcon® Formula #7 đạt đến 84,1% khả năng thoát hơi.
5. Sự liên kết đối với bê tông ximăng Portland
a. Columbia University, Department of Civil Engineers & Engineering Mechanics, New York City NY, USA, 1986 Lab Test No. 86-46 – thử nghiệm lực căng kéo – tăng 53.35%.
b. Columbia University, Department of Civil Engineers & Engineering Mechanics, New York City NY, USA, 1986 Lab Test No. 86-46 – thử nghiệm sự liên kết – ASTM C 952 – tăng lên 27.5% sự liên kết giữa những vật liệu xi măng kết dính.
6. Ảnh hưởng của việc thi công bê tông nhựa nóng (160°C) lên bên trên sàn bêtông đã xử lý Radcon #7
US Dept of Transportation, Federal Highway Asministration, Washington DC, 1981-1984-PB84-238740, Report FHWA/RD/ – 84/001 – không gây ảnh hưởng gì.
7. Tính bám dính của bê tông nhựa vào bê tông ximăng portland đã được xử lý Radcon® Formula #7
US Dept of Transportation, Federal Highway Administration, Washington DC, 1981-1984-PB84-238740, Report FHWA/RD/ – 84/001 – Sự dịch chuyển độ bám dính giữa bê tông đã được xử lý và Asphalt: kết quả cho thấy không có dấu hiệu thay đổi trên những mẫu thử nghiệm.
8. Khả năng chịu sốc nhiệt & tính kháng bong rộp bêtông
a. US Dept of Transportation, Federal Highway Administration, Washington DC, 1981-1984-PB84-238740, Report FHWA/RD/ – 84/001 – không nhận thấy sự bong tróc sau 95 chu kỳ sốc nhiệt .
b. Warnock Hersey Professional Services, Ontario Canada, 1989 – Report 50244 – C7 – 416600, thử nghiệm sốc nhiệt với sự có mặt của muối băng tan, ASTM C672, MTC form 1351 – giảm 85.5% trong khối lượng bình quân trên mét vuông sau 50 chu kỳ.
c. Warnock Hersey Professional Services, Ontario Canada, 1989 – Report 50244 – C7 – 416600, thử nghiệm khả năng gia tăng độ cứng cho bêtông theo thang độ Mohs – tăng lên đến 2 độ theo thang độ Mohs – tương đương với độ cứng đá Granit / Topaz.
9. Tính không độc hại của vật liệu (Material Toxicity)
a. SETSCO Services Singapore, 1998 thử nghiệm của việc sử dụng Radcon® Formula #7 đối với nguồn nước uống cho người. Đạt tiêu chuẩn BS6920
b. Warnock Hersey Professinal Services, Ontario Canada, 1989 – Report 50244 – C7 – 416600 – Non Volatile Contents ASTM D – 1644 – khoảng 27.7% – Radcon #7 không chứa những vật liệu như thế.
c. Smith Emery Company, California, USA, – File No. 13827, 1982 Không cháy và không độc hại cho con người.
10. Thành phần vật liệu (Material Composition)
a. Australian Nuclear Science & Technology Organisation (ANSTO) – Sydney, Australia, 1989,Đã xác định trong thành phần của Radcon #7 không có những nguyên tố như chì, cadmium. Trong cấu tạo của nó có chứa các nguyên tố Si, Na, Fe, Ni, Cu, Zn, Zr – Và là chất có gốc nước.
b. Trọng lượng riêng – 1.225
11. Độ thẩm thấu sâu (Depth of Penetration)
a. Warnock Hersey Professional Services, Ontario Canada, 1989 – Report 50244 – C7 – 416600: độ thẩm thấu của Radcon® Formula #7 đạt đến 15.75mm vào sâu trong bề mặt bêtông.
b. CSIRO (Australian Federal Government) Investigation of Concrete Cores, Hong Kong Highways Department, Sydney Australia, March 1999, Report Bin 151, – sự phát hiện quan trọng là độ sâu của Radcon® Formula #7 thâm nhập trong phạm vi từ 14-17mm.
12. Tính kháng trơn trượt
Warnock Hersey Professional Services, Ontario Canada, 1989 – Report 50244 – C7 – 416600 – không có dấu hiệu thay đổi hệ số của sự ma sát trong da hoặc cao su ướt hay khô.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s